Bạo Hành Gia Đình Tại Úc

Bạo Hành Gia Đình Tại Úc
Chào quý khách hàng và quý bạn bè độc giả của Tạ Quang Huy, trong quá trình làm việc của mình trong hơn 20 năm qua, Huy đã được tiếp xúc và tiếp nhận nhiều trường hợp bị bạo hành gia đình, nạn nhân là những người phụ nữ lấy chồng người có thường trú nhân hay quốc tịch Úc. Nhiều nạn nhân dù đã bị ngược đãi bạo hành nhiều năm nhưng vẫn cắn răng chịu đựng, vậy đâu là nguyên nhân? Các bạn cùng Huy tìm hiểu thử nha!

Chào quý khách hàng và quý bạn bè độc giả của Tạ Quang Huy, trong quá trình làm việc của mình trong hơn 20 năm qua, Huy đã được tiếp xúc và tiếp nhận nhiều trường hợp bị bạo hành gia đình, nạn nhân là những người phụ nữ lấy chồng người có thường trú nhân hay quốc tịch Úc.


Để đúc kết lại quá trình làm việc của mình, cũng như cố gắng nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan về những vụ án bạo hành gia đình nạn nhân là phụ nữ.


Nhiều nạn nhân dù đã bị ngược đãi bạo hành nhiều năm nhưng vẫn cắn răng chịu đựng, vậy đâu là nguyên nhân? Các bạn cùng Huy tìm hiểu thử nha!


Lời mở đầu


Úc có lịch sử lâu đời về nhập cư, đây là một trong các điểm đến ưa thích của người nhập cư. Nhập cư đã và đang giữ nhiều vai trò trong dự án xây dựng quốc gia của Úc trong những năm qua và nhập cư theo diện hôn nhân quốc tế luôn là một phần trong đó. Tương tự như các thuộc địa cũ khác, Úc có lịch sử lâu đời về việc đàn ông trong nước kết hôn với vợ nước ngoài. Toàn cầu hóa và Internet đã mở ra khả năng cho các cuộc hôn nhân xuyên biên giới nói chung với số lượng gia tăng phụ nữ chuyển đến Úc để kết hôn. Trong giai đoạn 2013-2014, Chính phủ Úc đã cấp 42,330 visa kết hôn, bao gồm 78.1% tổng số nhập cư gia đình và 32% tổng số nhập cư đến Úc (theo số liệu của Bộ Di Trú Úc năm 2014), nhiều hơn gần 10,000 visa so với bốn năm trước đó. 70% trong số những người nộp đơn là phụ nữ.


Trong khi nhập cư nói chung và nhập cư diện kết hôn nói riêng tiếp tục gia tăng ở Úc, thì người nhập cư và chủ nghĩa đa văn hóa từng được coi là tài sản của Úc, nay đã bị coi là ảnh hưởng một cách sâu rộng. Do đó, người nhập cư và chủ nghĩa đa văn hóa thường xuyên được chính phủ mô tả là những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và bảo vệ biên giới. Do đó việc thúc đẩy tư tưởng chính trị về người nhập cư như là đối tượng nguy hiểm hoặc ranh mãnh thường xuất hiện các chính sách đi kèm nhằm tăng cường kiểm soát nhập cư và hạn chế quyền của người nhập cư.


Các yêu cầu về visa bảo lãnh kết hôn là ví dụ cụ thể về các chính sách bị ảnh hưởng nặng nề bởi các tuyên truyền về ảnh hưởng của người nhập cư tới xã hội trong nước và quốc tế bao gồm nỗi sợ hãi về nạn khủng bố cũng như nghi ngờ đối với người nhập cư, thay vì chính phủ phải chứng minh được hành vi sai trái của người nhập cư.


Luật pháp: người nhập cư và bạo hành gia đình


Vào tháng 04 năm 1994, để phản ứng lại nhận thức rằng mọi người kết hôn chỉ để được thường trú tại Úc, chính phủ Úc chung đã đưa ra 'quy trình hai bước' cho những người nộp đơn xin visa kết hôn, bao gồm thời gian chờ đợi hai năm để được thường trú. Vì vậy, mối quan hệ phải được tiếp tục trong hai năm sau khi nộp đơn xin visa để được cấp quyền thường trú, bất kể cặp đôi đã ở bên nhau bao lâu trước khi nộp đơn. Cặp đôi được yêu cầu cung cấp các tài liệu về mối quan hệ của họ tại thời điểm nộp đơn xin visa và một lần nữa các tài liệu khác khoảng 24 tháng sau đó (Điều Lệ Di Trú 1994).


Những tài liệu đó bao gồm bản khai cá nhân của vợ, chồng, bản khai của bạn bè, hóa đơn hoặc hợp đồng thuê nhà cho thấy hai vợ chồng sống cùng nhau và bằng chứng về cuộc sống chung. Những tài liệu này có thể bao gồm hình ảnh, tài khoản ngân hàng chung hoặc bản khai mô tả các công việc nhà chia sẻ cùng nhau.


Từ năm 1994 đến năm 2002, Anh, Mỹ, Canada và Thụy Điển đã xây dựng các luật pháp tương tự để đối phó với nỗi lo ngại người nhập cư kết hôn giả để lạm dụng hệ thống nhập cư, nhưng những lo ngại đó chưa được chứng minh bằng các đánh giá pháp lý ở bất kỳ quốc gia nào trong số này.


Trong khi thời gian chờ đợi hai năm là thách thức đối với tất cả những người nhập cư theo visa kết hôn, vì nó hạn chế khả năng tiếp cận các lợi ích và thu nhập từ chính phủ thì tình trạng bạo hành gia đình do bảo lãnh kết hôn (chủ yếu là người đàn ông) gây ra đối với kết hôn nhập cư (đa số là phụ nữ) còn tồi tệ hơn.


Không có số liệu nhất định về bạo hành gia đình nạn nhân là những người nhập cư theo diện vợ chồng. Tuy nhiên, có lý do để tin rằng tỷ lệ bạo hành ở nhóm dân số này thậm chí còn cao hơn con số nạn nhân bạo hành gia đình vốn đã cao ở người Úc chính thống. Một số nhà nghiên cứu cho rằng điều này là do những cuộc hôn nhân này dựa trên mong muốn của đàn ông về một người vợ phục tùng với các giá trị truyền thống hơn và những người đàn ông này kỳ vọng rằng một người phụ nữ như vậy sẽ luôn được tìm thấy ở một quốc gia khác.


Bạo hành gia đình


Phụ nữ bị bạo hành gia đình thường thiếu sự đấu tranh để rời bỏ người bạn đời bạo hành của mình vì nhiều lý do bao gồm phụ thuộc tài chính, thiếu hỗ trợ bên ngoài gia đình và áp lực xã hội để duy trì mối quan hệ. Phụ nữ nhập cư có những rào cản để từ bỏ mối quan hệ khi họ bị bạo hành hơn là những phụ nữ nội tại trên quốc gia đó, những rào cản bao gồm: định kiến của cộng đồng đối với ly hôn, thiếu dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bạo hành gia đình ở quốc gia mới, rào cản ngôn ngữ khi tham gia với các dịch vụ xã hội hoặc chính phủ, hạn chế đến không có khả năng tiếp cận phúc lợi và nỗi sợ bị trục xuất.


Phụ nữ nhập cư có thể phụ thuộc vào chồng của họ với tư cách là người bảo lãnh visa và là nơi hỗ trợ thực tế ở một đất nước xa lạ và trong bối cảnh đó, phụ nữ rất tin vào những lời nói và sự đe dọa của đàn ông, bao gồm cả những lời nói đến hậu quả rằng phụ nữ nhập cư sẽ không có quyền ở đất nước mới. Trong khi một loạt các rào cản trên ảnh hưởng trực tiếp đến một phần trong quyết định của phụ nữ, nỗi sợ bị trục xuất đặc biệt mạnh mẽ trong việc kiểm soát các hành vi của phụ nữ ngay cả sau khi ly thân. Nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã chứng minh được phản ứng tâm lý và cảm xúc của phụ nữ đối với bạo hành có thể thay đổi như thế nào dựa trên nền tảng văn hóa của họ, nhất là các phụ nữ Châu Á bởi vì họ có sẵn trong mình bản tính cam chịu và hy sinh.


Tại Úc, Anh, Mỹ, Canada và Thụy Điển, luật nhập cư bao gồm các quy định dành cho phụ nữ nhập cư có thể bị ràng buộc trong mối quan hệ vợ chồng một thời gian dài do họ lo sợ bị trục xuất. Tại Úc, thông qua Quy định Bạo hành Gia đình theo Điều Luật Di Trú 1994 và theo Luật Di Trú 1958, trong các trường hợp ly thân trước khi được cấp quyền thường trú, người xin visa theo diện kết hôn vẫn có thể được thường trú trong các trường hợp chứng minh được mình là nạn nhân của bạo hành gia đình.


Các quy định này của bạo hành gia đình nhằm cân bằng lợi ích của đất nước trong việc bảo vệ biên giới và nghĩa vụ xã hội trong việc bảo vệ những nạn nhân là phụ nữ.


Trong khi các quy định của bạo hành gia đình cho phép tiếp tục quá trình cấp visa, ngoài ra những quy định này cũng gia hạn thời gian chờ cấp visa. Phụ nữ là nạn nhân khi tiếp cận các quy định của bạo hành gia đình cung cấp các tài liệu về tính xác thực của mối quan hệ của họ trong đơn xin visa ban đầu, tuy nhiên, họ được yêu cầu cung cấp thêm bằng chứng chứng minh mối quan hệ chân thật cho đến khi ly thân, nghĩa là chứng minh được mối quan hệ vẫn diễn ra tiếp tục xuyên suốt từ đầu cho tới khi ly thân.


Nếu Bộ Di Trú cho rằng mối quan hệ này không chân thật, bằng chứng bạo hành gia đình sẽ bị bỏ qua và visa bị từ chối. Khi bằng chứng được chấp nhận, phụ nữ phải cung cấp bằng chứng chứng minh mình là nạn nhân của bạo hành gia đình, những bằng chứng ‘liên quan’ đã xảy ra trong suốt mối quan hệ thông qua xuất trình các tài liệu cụ thể, chẳng hạn như bản khai tuyên thệ theo luật định, lệnh của tòa án hoặc án hình sự hoặc tuyên bố của tòa án. Hầu hết các quốc gia có hệ thống luật pháp tương tự chấp nhận nhiều hình thức bằng chứng hơn Úc.


Bài viết này không nhằm mục đích giải thích đầy đủ về kinh nghiệm làm hồ sơ nhập cư của phụ nữ, tuy nhiên điều quan trọng cần nhấn mạnh là sau khi kết thúc mối quan hệ, phụ nữ có thể chọn rời khỏi Úc, nộp hồ sơ xin một loại visa khác (ví dụ: visa công việc hoặc học tập) hoặc chứng minh mình là nạn nhân của bạo hành gia đình và tiến hành nộp đơn xin thường trú bằng cách sử dụng các quy định của bạo hành gia đình để ở lại Úc.


Nhiều phụ nữ sẽ chọn phương án cam chịu việc bị bạo hành gia đình vì nhiều lý do bao gồm nỗi sợ bị ngược đãi nếu trở về quê hương, xấu hổ hoặc có tội khi trở về với gia đình hoặc thậm chí vì họ cảm thấy mình sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn ở Úc và nhập cư là một quyết định đúng đắn bất chấp việc chịu đựng việc bạo hành.

Các trường hợp và lựa chọn visa này đã được ghi nhận trong nghiên cứu ở nhiều quốc gia bao gồm Úc. Mặc dù quyết định tiếp tục quá trình xin visa, nhưng phụ nữ đôi khi vẫn lo sợ việc ở lại vì thời gian chờ visa và các chính sách nhập cư hạn chế có thể làm tăng khả năng bị bạo hành thông qua việc hạn chế quyền tự chủ kinh tế và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của họ.


Mối quan hệ chân thật, bạo hành gia đình và cảm xúc của phụ nữ


Bản tường trình mối quan hệ là một trong những hạng mục được Bộ Di Trú xem xét để chứng minh tính chân thật của mối quan hệ khi được trình nộp cùng với hình ảnh sinh hoạt của cặp vợ chồng, các bằng chứng nơi thường trú chung và các bằng chứng chứng minh việc chia sẻ tài chính. Chứng minh tính chân thật là một thử thách đối với hầu hết các cặp vợ chồng ngay cả khi không có bạo hành gia đình, vì các cặp vợ chồng không phải lúc nào cũng đưa ra được bằng chứng này.


Nhóm người nộp đơn xin visa diện kết hôn rất đa dạng, bao gồm các cặp vợ chồng đã gặp nhau ở Úc và các cặp vợ chồng phải chịu đựng khoảng cách vật lý kéo dài vì họ đã gặp nhau ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: thông qua sự sắp xếp của gia đình hoặc Internet).


Cả hai trường hợp đều ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các thủ tục giấy tờ theo yêu cầu của Bộ Di Trú Úc của các cặp vợ chồng. Trong khi đối với hồ sơ xin visa ban đầu, cặp vợ chồng có thể chứng minh trong bản khai của họ lý do họ không có tài khoản chung hoặc lý do họ tạm thời sống xa nhau và sử dụng các lá thư, tin nhắn và e-mail đã liên lạc với nhau để chứng minh tính chân thật của mối quan hệ; sau khi cấp visa tạm trú, các cặp vợ chồng được yêu cầu cung cấp bằng chứng của mối quan hệ chân thật và sự chung sống trong khoảng thời gian đó.


Việc có được những bằng chứng đó là một nhiệm vụ đặc biệt thử thách đối với những phụ nữ ly thân do bạo hành gia đình và có thể phải rời khỏi nơi sống chung với chồng của mình, từ bỏ những bằng chứng vì không thể thu thập được chúng. Hơn nữa, người chồng có thể đã kiểm soát cuộc sống của cô ấy quá chặt chẽ đến mức cô ấy sẽ không có bất kỳ chứng cứ (các hóa đơn, giấy tờ ngân hàng) nào mang tên mình, hợp đồng thuê nhà và các hóa đơn chỉ đứng tên chồng của họ và không có tài khoản ngân hàng chung.


Theo một số nghiên cứu, trong trường hợp cả hai vợ chồng không có ở chung và không có chia sẻ về tình dục, các cặp vợ chồng xây dựng sự thân mật của mối quan hệ ở khoảng cách xa sẽ dựa vào: họ sẽ dựa vào những tuyên bố công khai về tình yêu, những câu chuyện được chia sẻ và trải nghiệm về sự tin tưởng và quan tâm để đo lường sự cam kết trong mối quan hệ và duy trì sự thân mật trong khoảng thời gian sống xa nhau. Khía cạnh này của mối quan hệ có thể không thay đổi sau khi chung sống.


Sự gần gũi, thân mật thường được coi là một phần lý do tại sao bạo hành gia đình lại phổ biến và khó bị truy tố. Phụ nữ rời bỏ mối quan hệ lạm dụng thường trải qua những cảm xúc mâu thuẫn, vì họ bị tổn thương bởi người thân thiết hoặc yêu thương. Vì vậy, cảm xúc của phụ nữ (như yêu thương, kiêu hãnh, sợ hãi, hy vọng, cảm giác tội lỗi và xấu hổ) là một phần quan trọng trong quyết định ở lại hay rời bỏ một mối quan hệ đang diễn ra của phụ nữ.


Để mô tả cảm xúc có thể tiếp cận được với thế giới thông qua hành vi của người đó (ví dụ: cử chỉ, trò chuyện). Cảm xúc thường được hiểu là những trải nghiệm phức tạp về thể chất, nhận thức, xã hội và quan hệ, giữa các cá nhân và nội tâm. Hiểu theo cách này, cảm xúc là dữ liệu có sẵn để nghiên cứu và là nguồn kiến thức để đưa ra quyết định, chẳng hạn như trong trường hợp xác định hồ sơ xin visa theo diện kết hôn. Cảm xúc có thể phổ biến và luôn có thể tiếp cận thông qua các hành vi của con người, nhưng các hành vi vẫn dựa trên bối cảnh và văn hóa, do đó có khả năng khác biệt giữa bối cảnh văn hóa này với bối cảnh văn hóa khác, tạo nên khó khăn khi truyền đạt cùng một cảm xúc qua các nền văn hóa. Cụ thể người phụ nữ khi sống ở một đất nước không phải đất nước mẹ đẻ, họ sẽ gặp vấn đề lớn trong việc bộc lộ và chia sẻ cảm xúc.


Quy tắc cảm xúc là kỳ vọng được xây dựng mang tính xã hội và kịch bản của cảm xúc áp dụng cho một người tùy thuộc vào giới tính và nền tảng văn hóa. Những 'quy tắc cảm xúc' này được thực hiện dựa trên giới tính và văn hóa dẫn đến kỳ vọng rằng phụ nữ sẽ bộc lộ cảm xúc khác nhau liên quan đến hôn nhân, bạo hành, nhập cư và ly hôn tùy thuộc vào tầng lớp xã hội và nền tảng văn hóa của họ.


Những biểu hiện đó có thể khác nhau giữa các nền văn hóa và giới tính, nhưng cũng có thể khác nhau trong cùng một nền văn hóa. Những người không hiểu ý nghĩa văn hóa và 'quy tắc cảm xúc' của nền văn hóa đó có thể không tiếp cận được ý nghĩa của chúng. Khái niệm 'quy tắc cảm xúc' được sử dụng trong nghiên cứu này để làm nổi bật các khía cạnh giới tính và văn hóa liên quan đến việc tiếp cận cảm xúc là nguồn thông tin. Tương tác với khái niệm 'quy tắc cảm xúc' cho phép tiếp cận cảm xúc trong các bối cảnh văn hóa khác nhau, trong khi không tương tác vào khái niệm này có thể dẫn đến hiểu lầm, bác bỏ và rập khuôn.


Bài viết này xem xét cách cảm xúc của phụ nữ có thể cung cấp bằng chứng mối quan hệ chân thật. Bài viết nhằm thấu hiểu những thách thức mà phụ nữ phải đối mặt trong quá trình nhập cư liên quan đến việc cung cấp bằng chứng liên quan mà còn trong việc tạo dựng và phá bỏ sự thân mật ở khoảng cách xa. Nó cũng cho thấy sự thân mật có thể được sử dụng chống lại phụ nữ nhập cư bị chồng ngược đãi, hành hạ trong khi đồng thời bị hệ thống nhập cư phớt lờ. Bài viết này dựa trên một tập hợp dữ liệu từ một nghiên cứu lớn hơn về tác động của quy định bạo hành gia đình đối với sức khỏe tâm thần của phụ nữ nhập cư.


(còn tiếp)


hinh anh co van ta quang huy

 Tác giả 

Cố vấn Tạ Quang Huy

Thạc sĩ Luật, Fellow Viện Di Trú.

Tạ Quang Huy là người gốc Việt đầu tiên được mời vào Ban Chấp Hành của Liên Đoàn Di Trú Úc và được phong chức Fellow cao quý từ Viện Di Tú Úc vào năm 2017. Anh làm việc trong lĩnh vực tư vấn từ năm 2001 cho các hồ sơ phức tạp như ‘người ở lậu’, tiền án tiền sự, thư tố cáo, tính xác thực cha/con, yêu cầu Bộ Trưởng can thiệp, v.v…  

Tags: tam su di tru uc | di tru ta quang huy va cong su | bao hanh gia dinh

Share: